-->

Tin nóng!

Chúc mừng sinh nhật các bạn trong tháng 11 nhé

Bài đăng nổi bật gần đây

Wednesday, February 01, 2012

Quan Công võ thánh

Có thể nói hiếm có vị võ tướng nào lại được tôn thờ và ảnh hưởng đến tín ngưỡng dân gian lớn như Quan Công. Nơi nào có người Hoa cư trú thì nơi đó có miếu thờ Quan Công với thần vị Quan Thánh Đế Quân. 

Không chỉ ở Đông Nam Á mà ngay nhiều bang ở Mỹ và các nước khác cũng có miếu Quan Đế với quy mô hoành tráng, khói hương không dứt.

Xưa kia các hội kín thường hội họp nhau ở các miếu thờ Quan Đế nên triều Thanh đã ra lệnh cấm tập trung đông người ở nơi này, nhưng không có kết quả. Những tích xưa thời Tam Quốc (220 - 280) về Quan Công như Đào viên kết nghĩa, Qua 5 ải chém 6 tướng, Quan Công phò Nhị tẩu, tha Tào Tháo ở Hoa Dung Đạo, thu phục Hoàng Trung, đại chiến Mã Siêu... luôn được tái diễn trên sân khấu tuồng và phim ảnh. 

Tổ miếu ở Giải Châu

Trong ngàn vạn miếu thờ Quan Công, chỉ có miếu Quan Đế và Tổ miếu ở Giải Châu, Vận Thành, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc mang ý nghĩa hoàn toàn khác. Giải Châu là quê tổ của Quan Công, nơi đây còn thờ tổ tiên ba đời và vợ con của ngài. Theo người dân địa phương nói thì đây là nhà cũ của Quan Công, nơi trú của linh thần Quan lão gia. Vì vậy, nơi này hơn 1.700 năm qua, hương khói phụng thờ không bao giờ dứt.
 
Giải Châu, Trung Quốc là quê tổ của Quan Công, nơi đây còn thờ tổ tiên ba đời và vợ con của ngài. 

Giải Châu Quan Đế miếu kỳ thực là một cung điện, chia làm hai phần là Đại miếu và Tổ miếu. Quan Đế miếu được kiến tạo từ năm Khai Hoàng thứ 9 đời Tuỳ Văn Đế (năm 589), trùng tu vào năm thứ 7 đời Tống Chân Tông (1014). Vào năm Gia Tĩnh đời Minh Thế Tông, miếu bị hư hại do động đất, sau khi trùng tu lại đến năm Khang Hy thứ 41 (1702) miếu lại bị cháy, qua gần 20 năm tu sửa mới có diện mạo như ngày hôm nay, nét cổ sơ vẫn còn như cũ.

Miếu Quan Đế toạ phương bắc hướng nam, chiếm diện tích 18.500m2, hiện là một trong những quần thể kiến trúc cung điện cổ lớn nhất và hoàn chỉnh nhất thế giới. Miếu phân 3 đường từ bắc xuống nam, kiến trúc chủ yếu tập trung ở tuyến giữa. Tuyến giữa lại phân làm nam, bắc hai phần lớn. Phía nam có các cảnh quan Vườn Kết nghĩa, đình bia, đình Quân Tử, gác Tam Nghĩa, núi giả. 

Trong gác Tam Nghĩa có tượng ba anh em Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi kết bái, sinh động như thật, khiến người xem khởi lòng tôn kính. Trong vườn Kết Nghĩa là rừng đào tươi tốt, không khí bảng lảng như thời ba anh hùng kết nghĩa. 

Phía bắc miếu là Chính miếu, chia thành hai viện tiền, hậu. Tiền viện mặt hướng về nam, vách đắp 4 con rồng. Ở giữa tuyến giữa là nhóm kiến trúc chính với điện Sùng Vũ, lầu Ngự Thư, Ngọ môn và Trĩ môn. Dọc hai bên là Sùng Thánh từ đường, Hồ Công từ đường, lầu chuông, lầu trống, nhà bia...

 
Giải Châu Quan Đế miếu kỳ thực là một cung điện, chia làm hai phần là Đại miếu và Tổ miếu. 

Điện Sùng Vũ là chủ điện của miếu Quan Đế, điện có 7 gian, 4 mặt có hành lang bao bọc, mái chồng và uốn cong, điện có 32 trụ đá tạc hình rồng cuốn, đoan chính nghiêm trang, thể hiện chính khí oai dũng của chủ nhân. Cổng điện có tấm biển rồng do vua Hàm Phong ngự bút "Vạn thế nhân cực", phía dưới thềm có ngự bút vua Càn Long khâm định hai chữ "Thần dũng". Hậu viện có tấm bia "Chính khí thiên thu" làm bình phong, giữa là lầu Xuân Thu có tạc tượng Quan Công mặt đỏ râu dài, thần thái phi phàm, đang đọc sách "Xuân thu". 

Cách miếu Quan Công về hướng đông nam 10km là thôn Thường Bình, tổ tịch của Quan Công. Trong thôn có một toà kiến trúc lợp ngói lưu ly, rộng 15.000m2, đó là Quan Đế gia miếu, tức miếu thờ gia tộc Quan Công. Bốn phía miếu đều có tường bọc bằng gạch xanh, trong sân cổ thụ chọc trời, khí thế cuồn cuộn. Ở chính giữa có sơn môn, ngọ môn, Hưởng điện, Quan Đế điện, Nương Nương điện, Thánh Tổ điện.

Hai bên là Sương phòng, Phối điện... sắp xếp rất có thứ lớp. Quan Đế gia miếu cũng kiến tạo từ đầu đời Tùy, từ đó đến năm Gia Tĩnh thứ 34 (1555), miếu được trùng tu và mở rộng quy mô đến 16 lần.

Nơi đây còn giữ được cái giếng mà cha mẹ Quan Công nhảy xuống tuẫn nạn. Thần kỳ nhất là trong sân miếu còn 4 cây cổ thụ, gồm 3 cây bách "Tam tuyệt" được đặt tên là Long bách, Hổ bách và Phụng bách; 1 cây dâu tương truyền là nơi Quan Công buộc ngựa Xích Thố.

 
Giải Châu Quan Đế miếu kỳ thực là một cung điện, chia làm hai phần là Đại miếu và Tổ miếu. 

Mỗi cây đều có truyền thuyết lạ kỳ, được kính trọng như thần. Người ta thường đưa con cái đến quỳ trước Long bách và Hổ bách xin làm con nuôi, dùng một sợi chỉ đỏ quấn lên thân cây để cầu linh mộc bảo hộ bình an.

Hậu duệ của Quan Công

Quan Công có con ruột là Quan Hưng, tài giỏi nhưng chết sớm, để lại hai cháu trai là Quan Thống và Quan Di. Đích tôn Quan Thống không có con, dòng Quan Di trở thành đại tông phái chính của hậu duệ Quan Công đến nay. Hậu duệ Quan Công có nhiều người tài giỏi nổi tiếng, gồm: Quan Lang - đại thần đời Bắc Ngụy, Quan Khang Chi - danh nho đời Nam triều, Quan Phiên - tể tướng đời Đường... Sau khi triều Thục suy vong, dòng họ Quan dần dần chuyển xuống phía Nam, đến Phúc Kiến, Quảng Đông lập nghiệp.

 
Hai hậu duệ của Quan Công 

Hiện nay, hậu duệ Quan Công nổi tiếng có tiến sĩ Quan Nghĩa Tân, nhà thực vật học - chuyên gia nông nghiệp hàng đầu Trung Quốc, người có hơn 30 công trình nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, lừng lẫy hơn cả có lẽ là Quan Anh Tài, truyền nhân đời thứ 72 của Quan Công, người được xưng tụng là "Thuyền vương Brunei", "Cự phú công thương Đông Nam Á". Cơ sở làm ăn của ông phát triển mạnh ở Brunei, Singapore, Malaysia. Quan Anh Tài từng được tiếp kiến thân mật Tổng thống Mỹ G. Bush, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và các quan chức cấp cao Trung Quốc, hiện là Chủ tịch Tổng hội Long Cương quốc tế (thành viên là hậu duệ của Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi và Triệu Vân).
Theo Quan thị gia phổ, Quan Công (Công nguyên 161 - 219), là hậu duệ đời thứ 27 của trung thần Quan Long Phùng đời Hạ Kiệt, người bị giết vì can gián vua. Ông nội Quan Công là Quan Thẩm, cha là Quan Nghị, đều là người tinh thông kinh sách.
Quan Công tên thật là Quan Vũ, tự Trường Sinh, sau đổi là Vân Trường. Người có tướng lạ, sức khoẻ địch nổi muôn người, kết nghĩa huynh đệ với Lưu Bị, Trương Phi cùng phò nhà Hán, đứng đầu trong "Ngũ hổ tướng" đất Thục. Quan Công là võ tướng lại có mưu lược, lập nhiều chiến công, giúp Lưu Bị rất nhiều trong việc lập nên nhà Thục Hán.
Do không nghe lời Khổng Minh nên năm 219, Quan Công mắc mưu tướng Đông Ngô là Lục Tốn, thất thủ Kinh Châu, phải phá vây chạy về Thành Đô, bị Tôn Quyền bắt chém lúc 58 tuổi. Sau khi nhà Ngụy nắm quyền, con cháu họ Quan đổi thành họ Môn để tránh họa, đến đời Tây Tấn mới lấy lại họ Quan.
Hiện nay, miếu thờ Quan Đế ở núi Ngọc Tuyền, Đương Dương, Kinh Châu là cổ nhất. Tương truyền, sau khi Quan Công chết, u linh không tan, tụ nơi núi Ngọc Tuyền đòi trả đầu. Trên núi có cao tăng Phổ Tĩnh khuyên giải rằng: "Nhân nào quả nấy, nếu ông đòi trả đầu thì ai trả đầu cho Nhan Lương, Văn Xú cùng bao người khác đã bị ông giết?". Quan Công nhất thời đốn ngộ bèn cúi tạ mà đi. Từ đó hiển thánh giúp đỡ dân chúng rất nhiều. Người dân vì thế mà cảm đức nên lập miếu thờ trên núi, cúng tế quanh năm.
Hàng ngàn năm qua, hình tượng Quan Công là biểu trưng của trung, hiếu, lễ, nghĩa, nhân, dũng, được tôn xưng là "Võ Thánh", có ảnh hưởng rất sâu rộng trong lịch sử, văn hoá xã hội Trung Hoa.

Nghi lễ HARAKIRI!!!

Đây là những hình ảnh được các binh sĩ Mỹ ghi lại trong thời kỳ diễn ra Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 về nghi lễ tự sát bằng cách mổ bụng của một sĩ quan của quân đội Nhật Bản - một nghi thức bảo vệ danh dự của những võ sĩ samurai huyền thoại.

Tự mổ bụng là một nghi thức cổ xưa có từ thời Edo của Nhật Bản. Nó còn được gọi là harakiri - một trong số những quy tắc võ sĩ đạo được các samurai đặc biệt coi trọng. Nó cho phép một samurai bị hạ nhục hoặc khi bị thất thủ, khi muốn tránh bị rơi vào tay quân địch và bị làm nhục có thể phục hồi danh dự bằng cái chết.

Đúng theo nghi thức, việc tự mổ bụng được tiến hành với trình tự nghi lễ trang trọng trong một căn phòng riêng. Theo nghi lễ, samurai sẽ tắm rửa, mặc áo dài trắng, ăn những món ăn mình yêu thích và sau đó các dụng cụ thực hiện nghi lễ sẽ được đặt lên trên đĩa của ông. Samurai sẽ đặt cây kiếm trước mặt và ngồi trên một tấm vải đặc biệt viết một bài thơ trước khi chết.

Sau khi áo kimono được cởi ra, người võ sĩ sẽ lấy thanh kiếm ngắn được gọi là wakizashi hay con dao nhỏ, dài (tanto) dâm vào bên trái bụng, rồi cắt theo một đường từ trái sang phải.

Trong nghi thức cổ xưa, đứng bên cạnh người võ sĩ samurai trong lúc thực hiện luật tự mổ bụng còn có một người được gọi là kaishakunin (giới tá nhân), là người sẽ chém đầu người samurai khi ông thực hiện xong nghi lễ tự rạch bụng.

Người kaishakunin sẽ thực hiện daki-kubi, đó là một nhát chém gần như đứt hẳn đầu của người Samurai (vẫn còn 1 dải thịt mỏng gắn đầu với thân thể). Do đây là một kĩ thuật đòi hỏi sự chính xác cao, nên người làm việc này thường là 1 kiếm sĩ lão luyện. Thường 1 nhát chém hoàn hảo theo đúng nghi thức sẽ được thực hiện ngay sau khi thanh dao vừa ngập vào ổ bụng của người Samurai.

Tuy nhiên, người làm việc chém đầu một samurai không phải luôn luôn là một người bạn. Nếu một samurai bại trận được ai đó tôn sùng, người đó có thể tình nguyện trở thành kaishakunin cho người samurai với mong muốn được thể hiện niềm kính trọng của họ với người samurai đó.

Một số Samurai lựa chọn cách chết đau đớn hơn trong nghi lễ này gọi là jūmonji-giri, nghĩa là "Cắt hình chữ thập". Khi đó, trong nghi lễ sẽ không có Kaishakunin để kết thúc nhanh chóng nỗi đau của người Samurai. Trong cách tự tử này, sau vết cắt đầu tiên, Samurai sẽ cắt vết thứ 2, đau đớn hơn nhiều, cắt dọc theo dạ dày. Một Samurai chấp nhận trở thành jumonji-giri sẽ phải chịu đựng một cái chết trong sự yên lặng bằng việc bị mất máu dần dần, đôi bàn tay ông ta sẽ che lấy khuôn mặt và ra đi một cách từ từ.

Nghi lễ tự rạch bụng của một sĩ quan Nhật:


Người Kaishakunin là một binh lính Mỹ giúp người sĩ quan Nhật kết thúc đau đớn nhanh chóng bằng một phát súng nhân đạo vào gáy

Nguyễn Hường (Theo Xinhua, Wikipedia)

Lịch sử Bệnh viện Nhi Đồng 2

Bệnh viện được bắt đầu xây dựng từ 1867 và bắt đầu nhận bệnh từ 1873.
Ban đầu bệnh viện mang tên Bệnh viện Hải quân, sau đó là Bệnh viện Quân đội, phục vụ chiến tranh Đông Dương
- Bác sĩ Grall có mặt từ 1905. Bệnh viện mang tên Bệnh viện Grall từ năm 1925.
- Bệnh viện trở thành bệnh viện dân sự với 560 giường bệnh từ năm 1958.
- Bệnh viện được chuyển giao cho chính phủ Việt Nam từ năm 1976.
- Từ 1- 6 – 1978 bệnh viện được giao nhiệm vụ khám và chăm sóc điều trị cho trẻ em và mang tên Bệnh viện Nhi Đồng 2. Là bệnh viện hạng I, cùng với BV Nhi Đồng 1 phụ trách điều trị cho bệnh nhân thuộc TP HCM và các tỉnh phía Nam.

- Từ 2-9-2006, bệnh viện đã đưa vào sử dụng khu điều trị mới sau hai năm xây dựng lại trên nền khu điều trị cũ ( đã sử dụng trên một trăm năm ).
- Hiện tại bệnh viện đang có dự án sữa chữa và xây dựng lại khu xét nghiệm vi sinh đạt tiêu chuẩn ISO 15189 của quốc tế do Đại học Oxford và Wellcome-Trust tài trợ.


BACK TO TOP